![]() |
|
|||||||
Chủ đề tương tự
|
||||
| Chủ đề | Người mở Chủ đề | Diễn đàn | Trả lời | Bài mới gửi |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.1 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-29-2010 01:34 PM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.2 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-29-2010 01:34 PM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.4 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-21-2010 08:12 AM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.3 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-16-2010 03:38 PM |
| Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.2 | nghenghieptimviecnhanh | Nghề nghiệp - Tìm việc nhanh | 0 | 04-15-2010 03:29 PM |
![]() |
|
|
LinkBack | Công Cụ | Dạng sắp xếp bài |
|
|||
|
Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.3
TẠO Ý NGHĨA CHO LÃI RÒNG - Trong suốt quyển sách này, chúng ta dùng thuật ngữ lãi ròng (lãi thực sau thuế). Điều này có nghĩa là số tiền công ty kiếm được sau khi khấu trừ các khoản chi tiêu, lãi suất vay mượn và thuế. Những chi tiêu này bao gồm tất cả phí tổn có liên quan đến việc sản xuất, bán sản phẩm cũng như là phí điều hành công ty, lãi suất các khoản vay và thuế thu nhập. - Lãi gộp _ số lãi mà từ đó lãi ròng rút ra _ là cách đánh giá để xác định việc phân tích tài chánh của một doanh nghiệp. Lãi gộp được tính bằng cách doanh số của công ty hay một mặt hàng nào đó rồi trừ cho chi phí trực tiếp có liên quan đến việc sản xuất hay mua sản phẩm, dịch vụ. - Giả sử người chủ tiệm mua 1.000 đôi giày với giá 30 đô một đôi và bán chúng với giá 50 đô. Doanh số ông ta thu được là 50.000 đô (1.000 đôi x 50 đô/mỗi đôi = 50.000 đô). Chi phí trực tiếp có liên quan đến những đôi giày này (phí tổn mua hàng) là 30.000 đô (1.000 đôi x 30 đô = 30.000 đô). Chúng ta có thể dùng hai con số này (doanh số và phí tổn) để tính ra lãi gộp. **** Doanh số 50.000 đô - Phí tổn mua hàng 30.000 đô = lãi ròng 20.000 đô **** Trong đó 50.000 đô kiếm được, ông ta có được 20.000 đô khí bán hết số giày. Lãi gộp của ông ta là 40% vì 20.000 đô là 40% của 50.000 đô. - Nhiều doanh nghiệp và nhà đầu tư theo dõi con số lãi gộp bởi vì nó cung cấp những đầu mối về sự thay đổi quan trọng đang ảnh hưởng đến bản chất thực của doanh nghiệp. Lấy thí dụ như nếu lãi gộp của bạn giảm từ 52 xuống 48%, bạn phải đặt câu hỏi tại sao. Có phải công việc sản xuất của bạn có phí tổn quá cao? Hay vì cạnh tranh, bạn phải giảm giá bán trong khi phí tổn vẫn như cũ? Trong những ngày đầu của máy vi tính cá nhân, ngành sản xuất máy tính đạt đến con số lãi gộp xấp xỉ 38%. Sau đó là thời kỳ cạnh tranh giá cả khốc liệt, giá một chiếc máy vi tính cá nhân giảm đi khủng khiếp với mức lãi gộp chỉ vào khoảng 20%. Để tồn tại, những nhà sản xuất buộc phải thay đổi toàn bộ phương thức kinh doanh bằng cách nhập linh kiện thay vì sản xuất, cắt giảm chi phí và gia tăng tốc độ quay vòng. - Cũng có thể là lãi gộp đang sụt giảm bởi vì thái độ của người tiêu thụ đang thay đổi. Bạn bán ra nhiều sản phẩm với lãi ròng thấp và một ít có lãi ròng cao. Có phải khuynh hướng này đang phát triển? CÁCH TÍNH ROA, ROI, ROE - Một số công ty dùng những cách đo lường về lợi nhuận có khác biệt đôi chút. Thay vì khảo sát lợi nhuận trên tài sản (ROA), họ quan tâm tới lợi nhuận trên vốn đầu tư (ROI) hay lợi nhuận trên cổ phiếu (ROE). Đừng bối rối vì những từ viết tắt. Về mặt khái niệm, các thuật ngữ này đều giống nhau. Chúng chỉ cho bạn biết bao nhiêu tiền bạn dùng trong doanh nghiệp là tài sản của riêng bạn, khoản đầu tư doanh nghiệp làm ra hay từ tiền đầu tư của các cổ đông góp vốn tạo ra công ty. Cách tính toán ROA, ROI, ROE cũng không khó lắm. Bắt đầu với công thức kinh doanh mang tính toàn cầu R = M x V với R = lợi nhuận, M = lãi ròng và V = tốc độ quay vòng. Để có lợi nhuận trên tài sản, nhân lãi ròng với tốc độ quay vòng tài sản (tốc độ quay vòng = doanh số bán ra: tài sản). Thử làm phép tính với một công ty có lãi ròng là 5%, doanh số bán ra 10 tỉ đô và tài sản trị giá 2 tỉ đô. **** R = 5% x (10 tỉ đô: 2 tỉ đô) **** Lợi nhuận trên tài sản ROA = 25%. - Để có lợi nhuận trên vốn đầu tư, nhân lãi ròng với tốc độ quay vòng vốn đầu tư (tốc độ quay vòng = doanh số bán ra: vốn đầu tư). Giả sử công ty này có lãi ròng 5%, doanh số bán ra 10 tỉ đô và tổng số vốn đầu tư là 5 tỉ đô. ***** R = 5% x (10 tỉ đô: 5 tỉ đô) ***** Lợi nhuận trên vốn đầu tư ROI = 10%. - Để có lợi nhuận trên cổ phiếu, nhân lãi ròng với tốc độ quay vòng cổ phiếu (tốc độ quay vòng = doanh số bán ra: cổ phiếu). Dùng 5% lãi ròng và 10 tỉ đô với số cổ phiếu trị giá 1 tỉ đô (số tiền công ty mượn ở ngân hàng không tính vào khoản này). ***** R = 5% x (10 tỉ đô : 1 tỉ đô) ***** Lợi nhuận trên cổ phiếu ROE = 50%. TẠO Ý NGHĨA CHO TỐC ĐỘ QUAY VÒNG - Nhiều người tập trung vào lãi ròng nhưng lại quên mất tốc độ quay vòng. Đây chính là điểm khác biệt giữa một TGĐĐH thành công và những nhà lãnh đạo khác. Ông ta luôn suy nghĩ về lãi ròng và tốc độ quay vòng. Cặp khái niệm song hành này là điểm cốt lõi của khả năng kinh doanh nhạy bén. - Tốc độ quay vòng rất quan trọng đối với tất cả các công ty. Nào bạn hãy quan sát những công ty có nhiều tài sản cố định _ xí nghiệp, máy móc hay tòa nhà. Lấy thí dụ như Công ty AT&T có nguồn đầu tư khổng lồ về đường dây điện, dây cáp, vệ tinh và tháp vô tuyến. Khi giá cước gọi đường dài giảm đi và lãi ròng dao động, cách duy nhất để cải thiện lợi nhuận từ tài sản là tập trung vào tốc độ quay vòng. AT&T phải gia tăng số tiền làm ra với những tài sản này. Thế là bạn hiểu tại sao chính AT&T và các công ty bưu chính viễn thông dám liều lĩnh trong việc gia tăng doanh số bán ra, cũng giống như người bán hàng ven đường cố gắng bán đủ loại mặt hàng. Michael Armstrong, TGĐĐH của AT&T, tuyên bố công khai rằng mức tăng doanh số bán ra có thể là ưu thế cao nhất của AT&T vào những năm 2000, 2001 và 2002. - Những công ty có tài sản cố định ít có thể đạt lợi nhuận từ tài sản ở mức gấp ba con số. Thí dụ như công ty Dell chủ yếu lắp ráp máy vi tính, không sản xuất nhiều linh kiện điện tử. Vì thế Dell không sở hữu nhiều nhà xưởng hay thiết bị sản xuất. Vào khoảng thời gian từ 1999 đến 2000, lợi nhuận trên vốn đầu tư của Dell (thuật ngữ Dell dùng và tin đó là biện pháp tốt nhất đánh giá hiệu quả kinh doanh) xấp xỉ 243%, gấp hai lần năm trước. - Dell không bắt đầu với con số lợi nhuận cao như thế bởi vì nó có sẵn lãi ròng cao. Michael Dell quan tâm đến tốc độ quay vòng. Ông ta thấy các doanh nghiệp khác có mức lãi ròng thấp, giống như việc bán hàng sỉ kiếm được lợi nhuận đáng kể với lãi ròng vào khoảng 3 đến 4%. Điều này khiến ông ta suy nghĩ và khám phá ra một phần khác của công thức R = M x V. - Bạn có thể đoán ra tốc độ quay vòng hàng tồn kho của Dell? Vào thời điểm cuối năm, 28 tháng Giêng 2000, con số ấy là 50. Dell có rất ít hàng tồn kho bởi vì toàn bộ số máy làm theo đơn đặt hàng. Điều này có nghĩa là Dell lắp ráp chi tiết kỹ thuật theo yêu cầu của từng khách hàng và giao đến tay người tiêu thụ không quá một tuần. Giờ đây, hàng ngũ lãnh đạo cao cấp của một số công ty như United Technology, Pratt & Whitney đến tham quan Dell để học cách sản xuất và giao hàng với số lượng hàng tồn kho ít ỏi. **** Khi bạn gọt giũa kỹ năng kinh doanh của mình, hãy suy nghĩ nhiều hơn về lợi nhuận từ tài sản và những yếu tố căn bản tốc độ quay vòng và lãi ròng. - Quan sát kỹ khoản lợi nhuận từ tài sản của công ty bạn. Nếu bạn thấy nó chưa đủ, hãy tạo áp lực bằng nhiều cách để cải thiện. Thậm chí nếu bạn không thể lý giải hết các vấn đề, hãy đặt thêm nhiều câu hỏi có ích: Làm sao khoản lợi nhuận của công ty bạn có thể so sánh với những công ty hàng đầu trong ngành? Trong những năm qua, con số này tăng lên hay giảm xuống? Những công ty nào trong ngành có lãi ròng, tốc độ và khoản lợi nhuận từ tài sản cao nhất? Bạn có thể học điều gì từ họ? - Trong kinh doanh tồn tại một sự thật là khoản lợi nhuận từ tài sản phải lớn hơn phí tổn khi bạn dùng tiền của mình hay của những người khác (ngân hàng và cổ đông) _ phí tổn về vốn. Nếu lợi nhuận từ tài sản không vượt quá phí tổn về vốn (thông thường vào khoảng lớn hơn hoặc bằng 10%), các nhà đầu tư sẽ cảm thấy khó chịu bởi vì việc quản lý kiểu ấy làm thất thoát tài sản của cổ đông. **** Một số công ty có cơ sở, chi nhánh hay những mặt hàng không chịu đựng nổi phí tổn về vốn. Họ phải tiến hành gia tăng lợi nhuận hoặc loại bỏ chúng đi. - Điều này giải thích tại sao nhiều TGĐĐH hay ban lãnh đạo cấp đơn vị quyết định bán đơn vị hay ngưng sản xuất một số mặt hàng. Jack Welch dùng nguyên tắc này trong công ty GE vào đầu thập kỷ 80 khi ông ta tuyên bố rằng bất kỳ đơn vị nào trong GE không thể đạt được vị trí nhất nhì bảng của ngành và không kiếm nổi khoản tương đương với lợi nhuận từ cổ phiếu đầu tư phải được sắp xếp lại hay bị bán đi. - Nếu như bạn không biết gì khoản phí tổn về vốn của công ty bạn, bạn có thể tìm cách cải thiện lợi nhuận. Thí dụ như bạn làm việc cho một công ty sản xuất xe, bạn thấy lợi nhuận từ những chiếc xe cỡ nhỏ là con số mơ hồ. Các nhà sản xuất xe trên thế giới thực sự kiếm được ít hơn 2% lợi nhuận từ tài sản ở các xe cỡ nhỏ, con số này thấp hơn phí tổn về vốn. Làm sao có thể tạo ra lợi nhuận cao từ mặt hàng này? Hãy dành thời gian suy nghĩ về hai yếu tố cơ bản tạo ra lợi nhuận từ vốn: lãi ròng và tốc độ quay vòng. Nguồn :Mọi công việc kinh doanh bản chất đều giống nhau - 2.3
__________________
Website Tìm việc làm NHANH và Tuyển dụng NHANH nhất Việt Nam cho các vị trí:* Việc làm Cấp trung: Các cấp quản lý trung gian.* Việc làm Cấp sơ: Sinh viên mới ra trường, kinh nghiệm làm việc dưới 3 năm.* Việc làm bán thời gian: Việc làm thêm, việc làm sinh viên...Tuyển dụng, việc làm, việc làm bán thời gian, viec lam sinh vien, tuyen dung nhanh, tuyen dung website do VINA Design Thiet ke web |
![]() |
| Công Cụ | |
| Dạng sắp xếp bài | |
|
|
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |
![]() |